Cho đồng nghiệp vay tiền bằng giấy viết tay thì có đòi lại được nữa không?

10/12/2018 10:20

CÂU HỎI: Chào luật sư, tôi có vấn đề thắc mắc muốn được luật sư Văn phòng Luật sư Lê Hùng tư vấn. Đầu năm 2018, tôi có cho 1 đồng nghiệp làm việc tại cơ quan vay với số tiền là 100 triệu đồng, thời hạn trả là 1 tháng.  Do chỗ đồng nghiệp thân thiết làm cùng công ty tôi rất tin tưởng, nên chỉ viết tay có chữ kí của cả hai bên mà không lập thành hợp đồng vay tiền. Tuy nhiên, đến nay đã quá thời hạn trả nợ 9 tháng mà đồng nghiệp tôi vẫn không trả. Tôi đã đòi tiền nhiều lần không được, họ cố tình chuyển công ty làm việc và trốn tránh tôi lần này qua lần khác mặc dù tôi biết họ có điều kiện, có tài sản để trả cho tôi.

Vậy tôi nên làm gì để có thể đòi lại số tiền cho vay này? Mong được luật sư giải đáp thắc mắc này giúp tôi. Cám ơn luật sư rất nhiều.

TRẢ LỜI: Chào bạn, cám ơn bạn đã tin tưởng và gửi câu hỏi đề nghị tư vấn đến Văn phòng luật sư Lê Hùng. Sau khi nghiên cứu các quy định hiện hành của pháp luật, câu hỏi của bạn đã được đội ngũ luật sư của chúng tôi nghiên cứu và tư vấn như sau:

Thứ nhất, căn cứ pháp lý:

Bộ luật dân sự năm 2015

Bộ luật hình sự năm 2015

Bộ luật hình sự sửa đổi bổ sung năm 2017

Thứ hai, luật sư tư vấn:

2.1 Về hình thức của Hợp đồng vay tài sản:

Căn cứ theo quy định tai Điều 463 Bộ luật dân sự năm 2015 về hình thức của Hợp đồng vay tài sản:

Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định.

Như vậy, về hình thức của hợp đồng vay tài sản, pháp luật không quy định hợp đồng phải lập thành văn bản, có công chứng hay chứng thực. Do đó, hợp đồng viết tay giữa bạn và đồng nghiệp xuất phát từ sự tự nguyện của các bên, không vi phạm về mặt nội dung của hợp đồng thì hợp đồng viết tay có hiệu lực pháp lý.

2.2 Nghĩa vụ trả nợ của bên vay tài sản:

Căn cứ theo quy định tại Khoản 1 Điều 466 Bộ luật dân sự năm 2015 về nghĩa vụ trả nợ của bên vay, thì đồng nghiệp của bạn có nghĩa vụ phải trả đầy đủ số tiền vay cho bạn  khi đến hạn theo thỏa thuận của hai bên.

1. Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

Như vậy, để bảo vệ quyền lợi của mình bạn có thể khởi kiện ra tòa án dân sự nơi đồng nghiệp của bạn đang cư trú, làm việc để đòi lại số tiền vay. Trường hợp bên vay tiền có ý định không trả tiền cho bạn mặc dù họ có đủ điều kiện, tài sản để trả nợ thì bạn hoàn toàn có thể làm đơn tố cáo gửi cho cơ quan công an yêu cầu khởi tố vụ án hình sự về tội lạm dụng tín nhiệm để chiếm đoạt tài sản theo Điều 175 Bộ luật dân sự năm 2015:

1. Người nào thực hiện một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại hoặc tài sản có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng; d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Tái phạm nguy hiểm.

Trên đây là tư vấn của  luật sư về nội dung câu hỏi của bạn. Nếu còn bất kì thắc mắc nào cần giải quyết, bạn có thể đến trực tiếp văn phòng để được hỗ trợ, giải đáp đầy đủ hơn.

Văn phòng luật sư Lê Hùng, địa chỉ: Số 363, đường Nguyễn Du- phường Nguyễn Du-Thành phố Hà Tĩnh, Hà Tĩnh.